Trong bài viết trước, tôi có viết là sáng nay tôi đi họp ở Rạch Giá, nay là “thủ phủ” của tỉnh An Giang mới. Hội nghị này là “Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam” do VPSF tổ chức với nội dung tập trung là “Đột phá thể chế hợp lực công tư”. Chừng 1giờ sau khi hội nghị tiến hành tôi lại được văn phòng Hiệp Hội DN. HVNCLC chuyển đến Thư mời của Ban Chỉ đạo TW về Phát triển Khoa học Công nghệ, Đổi mới sáng tạo về Chuyển đổi số nhằm sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW.

Hội thảo chung tại "Diễn đàn KT Tư nhân Việt Nam" tại tỉnh An Giang sáng 29/06/2026.

Trong khi tôi đọc Thư mời, tôi được nghe lời phát biểu sôi nổi của ông Hồ văn Mừng, chủ tịch tỉnh An Giang (mới) về “Phát triển Kinh Tế Tư Nhân”. Tôi chú ý một câu ông nhấn mạnh trong dòng suy nghĩ về hành trình phát triển của tỉnh: “Đồng bằng sông Cửu Long, nếu không có kinh tế tư nhân thì khó phát triển và khó tăng trưởng”.

Ông Chủ tịch tỉnh An Giang (mới) Hồ văn Mừng rất gắn bó với Mekong Connect (An Giang là tỉnh tỗ chức Mekong Connect 2024). Trên đây là hình ảnh ông tam gia Lễ Công Bố HVNCLC năm 2025. Trong ảnh, ông được Phó Giám đốc BSA Vũ Kim Anh đưa đi thăm triển lãm của doanh nghiệp tại Lễ Công Bố.
Chủ tịch tỉnh An Giang (mới) chụp ảnh với Ban chấp hành Hiệp Hội DN tỉnh An Giang cũ (đi cùng đoàn với ông Chủ tịch) tại Lễ Công Bố HVNCLC 2025.

Tôi ngồi cạnh ông bạn Lê Minh Hoan (nay ông vẫn là Phó Chủ tịch Quốc Hội trong tâm tưởng mọi người và còn rõ vị thể là đại biểu nông dân, một nhà chiến lược luôn khuyến khích hành động, hành động). Khi "đăng đàn", ông vẫn nhấn mạnh một "tứ" hiện thực và hiện đại, ông nhấn mạnh: “Một nền kinh tế đổi mới sáng tạo trước hết phải chấp nhận sự khác biệt. Phải chấp nhận thử nghiệm. Phải chấp nhận thất bại. Phải chấp nhận những điều chưa từng có tiền lệ. Bởi những tập đoàn lớn ngày nay từng là những doanh nghiệp rất nhỏ: Apple khởi đầu trong gara; Microsoft khởi đầu với vài người; Samsung từng là một công ty thương mại nhỏ; CP khởi đầu là một cửa hàng bán hạt giống…"

Ông Lê Minh Hoan vốn sử dụng công nghệ và AI thật nhẹ nhàng, nhuần nhuyễn. Ảnh ông chụp selfie tại Hội nghị tại tỉnh An Giang sáng 29/6/2026

Tôi thấy thực tế cho thấy: có một sự phối hợp thật nhuần nhuyễn giữa các từ khóa: “Đột phá thể chế Hợp lực công tư” thể hiện mối quan hệ tương tác giữa 2 nghị quyết 57 BCT và 68 BCT là Phát triển kinh tế tư nhân với Phát triển Khoa học Công nghệ- Đổi mới sáng tạo là rất chặt chẽ.

Tôi nghĩ đến một nội dung mà các doanh nghiệp trong Câu Lạc Bộ Doanh nghiệp Dẫn đầu LBC đang tập trung bàn trong những tuần cuối tháng 6 và đang đề xuất một số “đột phá thể chế” để nâng hiệu quả “hợp lực công tư” mà cụ thể là mô hình hợp tác 3 nhà.

Tỉnh An Giang có Đại học An Giang khá gắn bó với doanh nghiệp của tỉnh; Doanh nghiệp cùng trường Đại học lâu nay cũng có nhiều góp ý cho chính quyền năng động của tỉnh nhà. Thực tế, việc hợp tác 3 nhà ở An Giang cũng có một số vướng mắc khá phổ biến giữa 3 nhà. Nên đề xuất “đột phá thể chế” trong thực tế là quá cần thiết…

Mời bạn theo dõi ghi chép tổng hợp cuộc thảo luận này với các đề xuất từ thực tế.

ĐIỀU CHỈNH MÔ HÌNH HỢP TÁC BA NHÀ: ĐẶT DOANH NGHIỆP VÀO ĐÚNG VAI CHỦ THỂ CỦA R&D ỨNG DỤNG

  1. VẤN ĐỀ :

    Mô hình Ba Nhà — Nhà nước, trường/viện và doanh nghiệp — đúng về nguyên lý, nhưng đang vận hành theo lối tuyến tính một chiều: Nhà nước cấp ngân sách → trường/viện nghiên cứu → doanh nghiệp nhận chuyển giao và sản xuất. Cách hiểu này mặc định trường/viện là nơi chính tạo ra giải pháp công nghệ, còn doanh nghiệp chỉ là nơi tiếp nhận. Đó là lý do hợp tác Ba Nhà ở nhiều nơi mới dừng ở “cùng ký” mà chưa bước sang “cùng làm” — ba bên có mặt trên một văn bản, nhưng không cùng tạo ra một sản phẩm.

    Định hướng đó đã lỗi thời. Quyết định 604/QĐ-TTg ngày 02/4/2026 khẳng định “lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo”, khuyến khích doanh nghiệp “chủ trì hoặc đồng chủ trì”. Thực tiễn toàn cầu cũng vậy: từ AI, bán dẫn, UAV đến nền tảng số, công nghệ tạo tác động lớn nhất đều được phát triển và thương mại hóa bên trong doanh nghiệp. Tri thức nền có thể đến từ đại học, nhưng bước biến nó thành sản phẩm bán được vẫn chủ yếu diễn ra trong doanh nghiệp.
  2. ĐỊNH VỊ LẠI BA VAI THEO ĐÚNG NĂNG LỰC VÀ ĐỘNG LỰC

    Gốc của vấn đề là đặt sai chủ thể và gộp chung hai loại R&D vốn khác hẳn nhau. Cần phân định lại:

    – Doanh nghiệp là chủ thể chính của R&D ứng dụng và phát triển thực nghiệm - vì chỉ doanh nghiệp đối diện trực tiếp với khách hàng, chi phí, tiêu chuẩn, chứng nhận và cạnh tranh; chính áp lực đó buộc tri thức phải thành sản phẩm.

    – Trường/viện là nền tảng tri thức, nhân lực và chuyên gia - mạnh ở nghiên cứu cơ bản và đào tạo, tham gia chiều sâu chuyên môn cho các dự án do doanh nghiệp chủ trì; không nên là điểm nghẽn bắt buộc của mọi hoạt động ứng dụng.

    – Nhà nước là người kiến tạo - đặt hàng các bài toán lớn, chia sẻ rủi ro và tạo thị trường ban đầu, thay vì chỉ cấp ngân sách và quản thủ tục.

    Điểm then chốt không phải đổi thứ tự các mũi tên, mà là để ba bên cùng tham gia ngay từ khâu đặt bài toán — bước chuyển từ “hỗ trợ một chiều” sang “đồng kiến tạo”.
  3. CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC: KHÔNG ĐO BẰNG ROI, VÀ PHẢI PHÂN TẦNG

    Một công nghệ là “chiến lược” không phải vì sinh lời nhanh, mà vì nó quyết định năng lực tự chủ, an ninh và vị thế quốc gia. Phần lớn giá trị của nó là giá trị chiến lược và lan tỏa, không quy hết thành doanh thu một dự án. Vì vậy, không thể lấy doanh thu, ROI hay thời gian hoàn vốn làm tiêu chí chính để xét hỗ trợ, giải ngân từ Nhà nước — nếu áp đúng thước đo “sinh lời” đó, công nghệ chiến lược gần như luôn trượt ngay từ cổng xét duyệt. Đây là thất bại thị trường, và cũng là lý do Nhà nước phải vào cuộc: không để cạnh tranh ROI với doanh nghiệp, mà để đầu tư vào đúng chỗ thị trường bỏ trống — với tư cách nhà đầu tư kiên nhẫn, người chia sẻ rủi ro và khách hàng đầu tiên.

    Hơn nữa, trong cùng một danh mục, công nghệ ở những mức trưởng thành rất khác nhau cùng tồn tại; áp một khung chung cho tất cả là sai lầm gốc. Chính sách phải phân tầng theo Ba Chân trời (H1 – H2 – H3), áp thẳng lên Danh mục công nghệ chiến lược tại QĐ 21/2026:
    – H1 - đã chín, sát thị trường: doanh nghiệp dẫn dắt hoàn toàn; đối ứng tỷ lệ thấp; đo bằng doanh thu, thị phần.
    – H2 - đang trưởng thành: doanh nghiệp tiên phong cùng trường/viện; đối ứng cân bằng, sandbox, “mua lô số 0”; đo bằng mốc TRL, nguyên mẫu được kiểm chứng.
    – H3 - lõi, dài hạn: trường/viện và phòng thí nghiệm trọng điểm dẫn dắt, Nhà nước là nhà đầu tư kiên nhẫn; tài trợ nền dài hạn, không áp KPI thương mại ngắn hạn; đo bằng năng lực làm chủ công nghệ.

    Hai nguyên tắc xuyên suốt: nuôi dưỡng theo chân trời — không bỏ đói H3, không bao cấp dài hạn cho H1; và chấp nhận rủi ro theo chân trời — khẩu vị rủi ro và “quyền được thất bại” tăng dần từ H1 đến H3. Sai lầm nguy hiểm nhất là dồn hết ngân sách vào H1 vì “dễ nghiệm thu” và bỏ trống H2 – H3, khiến quốc gia mãi đi sau ở công nghệ lõi.
  4. BỐN KIẾN NGHỊ THEN CHỐT

    – Một, công nhận doanh nghiệp có năng lực được chủ trì nhiệm vụ R&D cấp nhà nước, đi cùng cơ chế tài trợ đối ứng (matching). Khi phải bỏ vốn đối ứng, doanh nghiệp chọn đúng bài toán và kiểm soát chi phí; khi Nhà nước chia sẻ rủi ro, doanh nghiệp dám làm công nghệ khó.

    – Hai, chuyển từ quản lý “hóa đơn” sang quản lý mục tiêu: khoán theo giai đoạn, hậu kiểm theo mốc kỹ thuật và tác động; và luật hóa “quyền được thất bại” — thất bại kỹ thuật hay thương mại, nếu quy trình minh bạch và trung thực, không bị quy là sai phạm.

    – Ba, để Nhà nước làm “khách hàng đầu tiên” qua đặt hàng thử nghiệm và mua sắm công đổi mới sáng tạo, tạo thị trường ban đầu giúp sản phẩm trong nước vượt “thung lũng chết” giữa phòng thí nghiệm và thị trường.

    – Bốn, tháo điểm nghẽn thực tiễn: với phần kinh phí doanh nghiệp tự chi trả khi hợp tác cùng chuyên gia của trường, cho phép chi theo giá thị trường, thay vì áp định mức hành chính làm chậm tiến độ.
  5. KẾT LUẬN

    Mô hình Ba Nhà cần dứt khoát chuyển từ “trường/viện nghiên cứu — doanh nghiệp nhận chuyển giao” sang “doanh nghiệp chủ trì R&D ứng dụng — trường/viện hỗ trợ tri thức — Nhà nước kiến tạo và chia sẻ rủi ro”. Đây không chỉ là điều chỉnh cơ chế phối hợp, mà là thay đổi quan niệm nền tảng về vai trò của doanh nghiệp trong khoa học – công nghệ quốc gia. Gói gọn trong một câu: từ “cùng ký” sang “cùng làm”.

"ĐỘT PHÁ THỂ CHẾ - HỢP LỰC CÔNG TƯ"