Nửa đêm, tôi nhận được tin nhắn của một người bạn ở Phú Yên: "Sáng sớm, em dậy, lấy cuốn Sài Gòn Bao Thương của chị ra đọc, cứ thấy nghèn nghẹn trong cổ họng và cay cay trong khóe mắt. Quá thương Sài Gòn".
Tôi khựng một chút rồi nhắn lại. Bạn nhớ vô Sài Gòn với mình, tôi 10/10 năm nay dự một cuộc gặp gỡ chưa từng có: 50 cháu là nạn nhân, mồ côi từ Covid năm ấy, lâu nay được trường Hope nuôi nấng, ở Đà Nẵng sẽ quay trở lại thăm thành phố Sài Gòn. Một cuộc gặp chắc cảm động khôn nguôi, mình chưa dám tưởng tượng...
Và sáng nay, mình lại đọc thấy bài này. Viết về người Sai Gòn. Không liên quan đến Covid nữa, nhưng làm mình nhớ tới những ngày thảm họa cũ, cũng những quán cơm 2000 hết sức cố gắng duy trì nuôi sống những người lao động nghèo nhất. Nay các quán cơm 2.000 vẫn hoạt động. Người Sài Gòn vẫn vậy...
Câu chuyện do các bạn trẻ Sài Gòn đang làm tình nguyện ở một quán cơm 2.000.
Đầu đuôi là con Nhi. Nó đăng ký cho cả nhóm phụ bếp thứ bảy hằng tuần ở một quán cơm hai ngàn gần bệnh viện, đăng ký xong mới thông báo, đúng phong cách nó. Thằng Phát cản không kịp, nhưng nó tự an ủi bằng cách vác theo điện thoại, tính làm nội dung "một ngày làm tình nguyện". Cái ý đó chết sau đúng mười lăm phút, tui kể sau.
Quán cơm hai ngàn thì bà con chắc nghe rồi. Sài Gòn có mấy chỗ như vậy: cơm canh đàng hoàng, có thịt có rau, mà tính đúng hai ngàn đồng một phần. Quán tui phụ là của chú Mười, mở cửa từ mười giờ rưỡi tới mười hai giờ trưa, sáu ngày một tuần. Khách là thân nhân nuôi bệnh bên kia đường, công nhân, sinh viên, mấy cô chú chạy xe ôm, ve chai.
Buổi đầu tiên, chú Mười phổ biến nội quy cho tình nguyện viên mới, đúng ba điều, ngắn gọn hơn nội quy cô Năm nhiều.
Điều một: gọi người ta là khách. Cấm gọi "bà con nghèo", cấm gọi "hoàn cảnh".
Điều hai: không chụp hình khách. Thằng Phát nghe tới đây thì cất điện thoại, mặt tiu nghỉu như bị tịch thu vũ khí.
Điều ba: khách trả tiền thì mình nhận bằng hai tay, nói cảm ơn. Điều này tui thấy lạ nhất. Người ta trả có hai ngàn, mình nấu cả tô cơm mấy chục ngàn, mà mình phải cảm ơn.
Chín giờ rưỡi sáng thứ bảy nào tụi tui cũng có mặt, ngồi nhặt rau với lặt hành. Mười giờ mười lăm chia phần. Mười giờ rưỡi mở cửa, khách vô, ai cũng ghé cái hộp nhựa để trên bàn, bỏ vô đó tờ hai ngàn, rồi bưng khay đi kiếm chỗ ngồi. Mười một giờ là cao điểm, hàng dài ra tới cửa. Mười hai giờ đóng cửa, rửa chén, dọn dẹp, về.
Tới tuần thứ ba thì cái đầu dev của tui bắt đầu ngứa. Bà con biết tánh tụi tui rồi: thấy quy trình nào chậm là muốn tối ưu.
Đề xuất thứ nhất của tui: bỏ khâu thu tiền. Hai ngàn đồng thì gom cả tháng cũng không đủ tiền gas, mà cái hộp đó làm hàng bị nghẽn, có bữa một bà cụ móc túi kiếm tờ tiền lâu tới mức phía sau phải đứng chờ. Bỏ đi cho nhanh, coi như phát cơm miễn phí.
Chú Mười nghe xong, lắc đầu, trả lời gọn:
- Cho không thì người ta ăn một lần rồi thôi. Tính tiền thì bữa sau người ta dám vô nữa.
Tui chưa chịu. Tui đề xuất tiếp: vậy để con dán cái mã chuyển khoản, quẹt điện thoại cái là xong, khỏi lục túi. Chú Mười lần này còn không thèm nghĩ:
- Hai ngàn phải là tờ tiền, phải đưa bằng tay. Đưa bằng tay thì người ta mới thấy mình đi ăn cơm, chớ không phải đi xin.
Tui dạ, mà trong bụng nghĩ ông già này bảo thủ dễ sợ.
Rồi tui để ý một chuyện kỳ hơn nữa. Mỗi bữa, lúc chia phần, chú Mười luôn để riêng ra một khay cơm, đậy nắp, đặt trên cái kệ gỗ sát vách, cạnh một cái ghế nhựa trống. Khay đó không bán, không ai được đụng. Tới mười hai giờ, nếu không ai lấy, chú đem đổ.
Thằng Phát ghé tai tui: "Chắc cúng ông địa." Con Nhi đoán chú để dành cho chú ăn trưa. Tui thì nghĩ đơn giản hơn: dư thì để đó, kiểu vậy.
Tới tuần thứ mười, tui làm cái việc mà một thằng dev sẽ làm: tui lật cuốn sổ ghi số phần cơm mỗi ngày của quán, ngồi cộng. Cuốn sổ ghi tay, chú Mười ghi từ hồi mở quán, cột cuối cùng đề đúng hai chữ: "để dành". Bữa nào có người tới lấy thì chú đánh dấu.
Tui cộng hai tháng gần nhất. Bốn mươi bảy bữa cái khay đó không ai đụng tới, đem đổ. Sáu bữa có người tới lấy.
Bà con hiểu tui lúc đó chớ. Bốn mươi bảy phần cơm đổ đi. Tui ngồi tính ra tiền gạo tiền thịt, ra một con số mà tui thấy xót thiệt tình, tại quán này sống bằng tiền quyên góp, tháng nào cũng chật vật. Tui soạn hẳn một đề xuất thứ ba, đàng hoàng, có số liệu: bỏ cái khay để dành đi, lấy phần đó nấu thêm cho khách thật.
Trưa thứ bảy đó, dọn dẹp xong, tui đưa chú Mười coi. Chú cầm tờ giấy, đọc chậm, đọc kỹ. Rồi chú hỏi tui một câu:
- Bây đếm bốn mươi bảy bữa bị đổ. Sao bây không đếm sáu bữa kia?
Tui nói dạ, sáu bữa thì ít quá chú.
Chú Mười gấp tờ giấy lại, kéo cái ghế nhựa trống bên cạnh cái kệ, ngồi xuống. Lần đầu tiên trong ba tháng tui thấy chú ngồi cái ghế đó.
- Hồi đó vợ chú nằm bên kia đường. Nằm bốn tháng.
Chú kể chậm, giọng đều đều, như kể chuyện người khác. Hồi đó chú làm thợ hồ, ngày nào cũng tranh thủ làm cho xong phần của mình rồi chạy về bệnh viện. Cơm nước thì trông vô mấy chỗ phát cơm từ thiện quanh đó. Có một bữa, chủ thầu giữ lại đổ cho hết mẻ hồ, chú tới nơi thì đồng hồ chỉ mười hai giờ mười.
Người ta dọn xong rồi. Nồi rửa sạch, úp ngược, nước còn chảy thành dòng dưới chân.
- Chú không giận ai hết. Người ta phát cơm miễn phí, người ta có lỗi chi đâu. Mà chú nhớ hoài cái cảm giác đứng đó, tay còn cầm cái cà mèn.
Chú im một lát, rồi nói tiếp, vẫn cái giọng đều đều đó:
- Bữa đó chú với bả nhịn. Bả biết chú nhịn, bả không ăn nữa, đòi chia. Hai vợ chồng ngồi trên giường bệnh cãi nhau vì một hộp cơm. Bây hiểu hông. Chú không sợ đói. Chú sợ cái mặt của bả lúc bả biết chú nhịn.
Cả cái quán im re. Con Nhi bỏ cái giẻ xuống. Thằng Phát đứng như trời trồng, và tui biết chắc lúc đó nó không hề nghĩ tới chuyện quay cái gì hết.
Chú Mười gõ gõ lên cái kệ gỗ:
- Cho nên chú để một khay ở đây. Chú không biết bữa nào có người tới trễ. Bốn mươi bảy bữa không ai tới là bốn mươi bảy bữa mừng, con. Còn sáu bữa kia - sáu bữa đó là sáu người không phải đứng ngoài cửa nhìn cái nồi úp ngược.
Tui đứng đó, cầm cái đề xuất tối ưu của mình, và tự nhiên thấy nó nặng như cục gạch.
Nghề tui người ta dạy: cái gì ba tháng không ai đụng tới thì gọi là dư thừa, cắt đi cho nhẹ hệ thống. Tui quen tính hiệu suất tới mức quên mất một chuyện: có những thứ tồn tại không phải để được dùng, mà để lỡ có ai cần thì nó có sẵn ở đó. Cái ghế trống cạnh cái kệ cũng vậy - chú Mười để đó để người tới trễ có chỗ ngồi ăn đàng hoàng, chớ không phải đứng ăn vội ngoài cửa.
Bốn mươi bảy phần cơm đó, hóa ra không phải rác. Nó là chi phí để giữ một lời hứa: giờ này, chỗ này, còn cơm.
Tuần cuối cùng tui phụ quán, mười một giờ năm mươi, khách vãn gần hết. Tui đang lau bàn thì cửa mở. Một chị bước vô, đồng phục công ty may còn nguyên, tóc bết mồ hôi, tay xách cái cà mèn, mặt đầy vẻ tính quay lưng đi ra.
Chị nhìn cái nồi. Nồi cạn thiệt.
Tui làm cái việc mà ba tháng nay tui coi là dư thừa: bước tới cái kệ, bưng cái khay đậy nắp xuống. Cơm còn ấm.
- Chị ngồi đây ăn cho khỏe. Còn cơm mà chị.
Chị đó đứng khựng mấy giây. Rồi chị làm đúng một chuyện trước khi ngồi: mở bóp, lấy tờ hai ngàn, bỏ vô cái hộp nhựa trên bàn.
Tui nhận bằng hai tay, nói cảm ơn chị, đúng điều ba trong nội quy. Và tới lúc đó tui mới hiểu tại sao cái điều ba nó phải nằm trong nội quy.
Bữa đó về hẻm, tui ngồi ăn hủ tiếu, kể lại cho cô Út nghe. Cô nghe xong, trụng bún, không bình luận gì hết, chỉ nói đúng một câu:
- Rứa là ông đó với cô làm chung một nghề đó con.
Tui nghĩ hoài về câu đó. Cô Út bán hủ tiếu hai chục năm, có cuốn sổ cho ghi nợ. Chú Mười bán cơm hai ngàn, có một khay để dành. Hai người không quen nhau, cách nhau bốn cây số, mà làm y chang một việc: bịa ra một cái giá nhỏ xíu, để người ta bước vô cửa với tư cách khách, chớ không phải với tư cách người được thương hại.
Hai ngàn đồng, ở Sài Gòn, mua không được gì hết. Chỉ mua được đúng một thứ: một chỗ ngồi mà người ta không phải mang ơn ai.


