Chương 9: NẾU HỒ TONLE SAP BIẾN MẤT, MEKONG SẼ RA SAO?

Vào một ngày cuối năm 2017, 11/2017, tôi và Sorn Pheakdey (Giám đốc văn phòng Campuchia của Liên hiệp Bảo tồn Môi trường – International Union for Conservation of Nature (IUCN) đến được vùng Chhnok Tru, cách Phnom Penh 120 cây số về phía thượng nguồn. Đây là nơi hồ Tonle Sap đổ vào dòng Tonle Sap. Trước mắt chúng tôi, đường xá chìm dần vào hồ. Vào mùa khô, con đường này sẽ kéo dài thêm vài cây số nữa, sâu vào trong hồ. Nhưng vào thời điểm này, hồ Tonle vẫn chỉ mới bắt đầu tháo nước vào dòng Mekong và đây là mùa thu hoạch cá linh (trey riel, dịch ra tiếng Anh là “cá tiền” – money fish).

Trey riel – Cá linh.

Cá linh, một nhánh của họ cá chép, là một phần quan trọng của bà con Campuchia vùng hồ Tonle Sap. Trung bình, mỗi năm 1 người Campuchia ăn khoản 75kg cá, nhiều hơn bất kỳ quốc gia phát triển nào. Và đặc biệt hơn, cá đóng góp 65-75% lượng protein động vật của các gia đình Campuchia. Cá linh được nghiền ra làm thành mắm Bò hóc (Prahok) và được người bản địa trữ dùng nhiều tháng sau mùa thu hoạch. Việc đánh bắt và xử lý cá linh là nguồn sống của rất nhiều gia đình tại hồ Tonle Sap; đàn ông sẽ lên thuyền đi đánh cá, còn phụ nữ và trẻ em ở nhà xử lý cá. Khoản thời gian này cũng là sợi chỉ kết nối phần lớn dân Campuchia vì nông dân đã và đang mua bán trao đổi gạo/tiền lấy mắm Bò Hóc. Người Campuchia nào cũng nằm lòng câu nói “mean tuek, mean trey”, nghĩa là “nơi nào có nước sẽ có cá”. Và không có cộng đồng nào thấm nhuần suy nghĩ đó hơn vùng hồ Tonle Sap, khu vực khai thác thuỷ sản nội địa lớn nhất thế giới. Mỗi năm, hơn 500,000 tấn cá được thu hoạch tại hồ Tonle Sap (để so sánh, toàn bộ sông và hồ nước ngọt ở Bắc Mỹ thu hoạch khoản 450,000 tấn cùng kỳ). Vào mùa khô, dòng Tonle Sap sẽ hút nước từ các hồ lớn và đẩy nước vào chính lưu của Mekong tại khu hợp lưu Chaktomuk. Và rồi, khi mùa khô đến vào tháng 06, nhịp chảy của nước vào dòng Mekong từ Lào và 3 dòng Sesan, Srepok và Sekong mạnh lên dữ dội, đến mức đảo chiều hướng chảy của dòng Tonle Sap. Và chính nhịp điệu kỳ diệu của tự nhiên này đã giữ cho hồ Tonle Sap tồn tại hàng ngàn năm qua.

Prahok – mắm Bò hóc.
Prahok Padek phiên bản mắm Bò hóc của Lào

Khi mùa mưa đến, Tonle Sap sẽ mở rộng gấp 5 lần diện tích hồ so với mùa khô, từ 2,500 cây số vuông lên hơn 15,000 cây số vuông. Mực nước tăng cao trung bình khoản 1 mét, có vùng nước dâng cao hơn 9 mét, và lượng nước trữ tăng hơn 60 lần. Về bản chất, Tonle Sap là một dòng sông đổ thẳng ra biển và bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chu trình trăng mọc. Theo ông Ian Baird, nhà địa lý và thuỷ sản học ở Mekong, và các ngư dân quanh vùng, mùa đánh bắt tốt nhất ở Phnom Penh là khi trăng rằm vào tháng 12, 01 và 02. Và tại vùng Siphandone diễn ra khoản 2 tuần sau đó cùng kỳ, khi trăng non xuất hiện. Trước khi dòng Mekong “kiếm” ra dòng Tonle Sap và hợp lưu vào 5,000 năm trước thì dòng Tonle Sap đổ thẳng ra biển. Vì vậy, nhịp sống của cá chép khu vực này phụ thuộc nhiều vào thuỷ triều: khi nước biển đổ vào dòng sông thì cá sẽ bơi đến các phụ lưu nước ngọt khác. Từ đó tạo ra thói quen cá di cư vào buổi tối triều lên, đặc biệt vào khi trăng non. Chúng ta có thể tưởng tượng như sau: Cá đổ về hồ Tonle Sap vào mùa mưa và di cư khỏi đó vào mùa khô.

Hồ Tonle Sap có thể được chia làm 3 khu vực: (1) vùng hồ vĩnh cữu là nơi sâu nhất hồ, luôn có nước; (2) vùng rừng ngập và thảm cỏ, nơi thường chìm trong nước khoản 5-8 tháng mỗi năm; và (3) vùng đất nông nghiệp trù phú quanh hồ, nơi thường chỉ bị ngập vài ngày mỗi năm. Vùng rừng ngập có diện tích khoản 7,000 cây số vuông là vùng sinh thái quan trọng nhất của hồ Tonle Sap, và cả dòng Mekong. Do môi trường sống đặc thù nên cây cối nơi đây thường chìm trong nước khoản 8 tháng mỗi năm. Khi nước sông đổ ngược lại vào hồ, rễ cây sẽ bị mục rữa và tạo ra 1 lượng lớn chất hữu cơ trong hồ. Những con cá di cư đến hồ sớm sẽ không sống được do quá nhiều chất hữu cơ hút cạn oxygen trong hồ. Nhưng khoảng vài tuần sau đó, lượng oxygen trong hồ sẽ cân bằng và cá ồ ạt đổ về để đẻ trứng. Hồ Tonle Sap là nơi sống của hơn 800 chủng cá, chim chóc, bò sát, động vật có vú và lưỡng cư. Trong đó có 17 loài chim nằm trong sách đỏ. Vùng rừng ngập nước này là vành đai bảo vệ hệ sinh thái của hồ, do khi mùa khô đến, nước rút đi, chất dinh dưỡng sẽ được rừng giữ lại, bồi đắp cho thảm thực vật quanh hồ.

Dòng Tonle Sap.

Ngày nay, hơn ½ diện tích vùng rừng ngập nước này đã biến mất do nhiều lý do. Đầu tiên là vì sự khai thác quá mức của dân bản địa, những người sống nhờ cá và các loại thực vật quý hiếm ở hồ. Họ đốn hạ rừng để lấy gỗ xây nhà và đốt sưởi. Lý do thứ 2 là khi người Pháp đô hộ Campuchia, họ đã dọn rừng để phát triển nông nghiệp. Và khi chính quyền Khmer Đỏ đến đây, họ đặt dấu chấm hết cho khu rừng ngập nước trù phú lâu đời này. Chế độ Pol Pot áp dụng mô hình canh tác nương rẫy du mục trong cải cách ruộng đất và đã chặt một lượng lớn rừng ngập nước nơi đây. Cuộc cải cách thất bại thảm hại và làm chết hàng trăm ngàn người. Khi quân đội Việt Nam đánh bại quân Khmer Đỏ và chính phủ Hun Sen lên nắm quyền, họ lại chặt một lượng lớn khu rừng này để lùng diệt tàn binh Pol Pot. Giờ đây, khu rừng ngập nước này hầu như chỉ còn là 1 khu rừng thứ sinh đầy cây bụi thấp. Nhiều loài động vật đã biến mất khỏi khu hồ Tonle Sap, như voi rừng hay cá heo Irrawaddy (giống cá heo này bị lính Pol Pot giết hại để khai thác dầu cá, trở thành nhiên liệu).

Bất chấp sự quan trọng của vùng hồ Tonle Sap, chính phủ Campuchia không có kế hoạch quản lý khai thác rõ ràng và lâu dài. Theo báo cáo của Viện nghiên cứu và phát triển Thuỷ sản Đất liền Campuchia (Cambodia’s Inland Fisheries Research and Development Institute – IFreDI), hơn 4.5 triệu dân nước này (khoản ⅓ tổng dân số) sống và khai thác thuỷ sản. Con số này nhiều khả năng là không chính xác do họ không tính đến nhóm người đánh bắt thuỷ sản để ăn hàng ngày. Khi điều tra, viện IFreDI chỉ cho người dân chọn giữa nông nghiệp và thuỷ sản; trong khi rất nhiều người tham gia cả 2 ngành. Cũng vì vậy, chính phủ Campuchia đã không đánh giá được thiệt hại về mặt dinh dưỡng hàng ngày có được từ thuỷ sản. Mỗi năm, Campuchia thu hoạch khoản 570,000-625,000 tấn cá, và hoàn toàn bỏ qua nhóm người nói trên (khoản hơn 1 triệu người, theo nhiều báo cáo khác nhau). Lượng cá thu hoạch này được định giá khoản 600 triệu USD khi được bán ra thị trường.

Quanh hồ Tonle Sap có hơn 1.2 triệu người đang sống ở các làng gần đó, hơn 100,000 người sống ở các nhà bè trên hồ và hàng chục ngàn người Việt Nam di cư đến đây trong thời chiến. Trung bình, mỗi năm, những người này thu hoạch khoản 100kg cá. Chính phủ Campuchia, từ những năm 1990 đã không có kế hoạch bảo tồn và khai thác hồ Tonle Sap bền vững. Việc khai thác cá trên hồ từ xưa được quản lý bằng việc bán giấy phép đánh bắt (ở đây họ chia thành khu, quy đinh theo diện tích) một cách đơn thuần. Số tiền này hoàn toàn không được đưa vào ngân sách mà biến mất đâu đó 1 cách bí ẩn. Chính quyền cũng không có quy định về phương thức và thiết bị đánh cá, dẫn đến việc đánh bắt trái phép. Họ cũng không có chương trình đào tạo cho chủ các khu đánh cá về mối quan hệ mật thiết giữa mật độ cá trong hồ với sự tồn tại của khu rừng ngập nước. Việc kinh doanh ở hồ Tonle Sap đều có thể được giải quyết bằng tiền; nhiều người đã hối lộ quan chức nơi đây để tăng quy định về diện tích và lượng cá khai thác của họ. Việc quản lý không định hướng được thể hiện rõ hơn vào cuối năm 2000, ông Hun Sen, thay vì ban hành quy định bảo tồn hồ, đã cho gọi tất cả cán bộ quản lý thuỷ sản về Phnom Penh họp dài hạn. Với việc chính quyền quản lý không còn ở gần, người dân Tonle Sap điên cuồng khai thác hồ dẫn đến việc hơn 1 thập kỷ sau đó, 20% diện tích hồ hoàn toàn không còn cá. Vào năm 2012, một cách bất ngờ, ông Hun Sen ra lệnh huỷ toàn bộ giấy phép đánh cá quy mô lớn ở hồ Tonle Sap với lý do muốn quản lý việc suy giảm lượng cá và xung đột giữa người dân địa phương và các công ty thuỷ sản thương mại. Tác giả cho rằng đây là chiến thuật thường thấy của ông Hun Sen trước mỗi kỳ bầu cử: chủ nghĩa dân tuý để lấy phiếu bầu (và đương nhiên, vào 2013, đảng của ông Hun Sen đã chiến thắng trước đảng của ông Sam Rainsy). Cuối năm 2012, nhờ việc cấm đánh cá quy mô lớn, lượng cá ở Tonle Sap tăng cao. Điều đó dẫn đến việc hàng ngàn người đổ về đây đánh bắt nhỏ lẻ xuyên cả mùa khô. Người dân bắt được các giống cá quý như cá tra dầu khổng lồ vùng Mekong và các loài cá trắm hiếm thấy. Điều này được gọi là “khai thác đầu nguồn” (fishing down the food web). Các loài cá to nói trên đều là cá săn mồi và ăn các loại cá nhỏ hơn. Sự tồn tại của chúng đảm bảo sự cân bằng sinh học của hồ Tonle Sap. Giờ đây, việc khai thác lậu và liên tục (nhiều gia đình sử dụng lưới dài cả cây số hoặc các túi lưới) giúp các loài cá nhỏ hơn phát triển, nhưng đẩy hệ sinh thái hồ Tonle Sap vào tình cảnh nguy hiểm trước quá trình biến đổi khí hậu. Để có thể hỗ trợ tính đa dạng sinh học ở hồ, chúng ta cần một kế hoạch bảo tồn thông minh.

*Note: Người Việt Nam sống ở vùng hồ này bị coi là “cừu đen” do phần lớn dân mình sống trên các nhà bè và có thể di chuyển tự do khắp vùng Tonle Sap. Người Việt Nam cũng là cộng đồng dùng nhiều thiết bị đánh cá trái luật và thu hoạch bất chấp chủng loại.

Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của hồ Tonle Sap với người dân nơi đây, tác giả đã đi về vùng Plov Tuok, một cộng đồng bao gồm 6 ngôi làng nổi nằm sâu trong địa phận phía Tây hồ. Từ 2014, Pheakdey và các nhà bảo tồn khác đã cùng với dân làng lập nên vùng bảo tồn cá ở Plov Tuok. Plov Tuok là một tổ hợp bền chặt của 6 ngôi làng nổi, nơi toàn bộ nhà cửa đều nằm trên hồ. Nhà cửa nơi đây, hoặc được nối vào nhau, hoặc được cột vào cây ven hồ, và đầy màu sắc với các mái tôn rỉ sét. Sự linh hoạt của nhà nổi cho phép người dân di cư nguyên năm, đi vào các vùng sâu hơn của hồ để đánh cá vào mùa khô, hoặc đi vào bờ để canh tác nông nghiệp. Vào mùa mưa, vùng rừng ngập nước trở thành lá chắn cho bà con nơi đây khỏi bão và các cơn sóng động. Mỗi làng có khoản vài trăm hộ và nhà nào cũng có cho mình cano để tiện di chuyển trong vùng. Người dân nơi đây cho biết nếu không có các dự án của IUCN, khu rừng ma (Ghost Forest – là vùng rừng ngập nước. Người dân nơi đây vào mùa khô sẽ chôn cất người đã mất ở đây khi đất lộ ra, và cột quan tài của người mất vào rừng cây vào mùa mưa). Người dân 6 làng này cùng với IUCN đã thành lập ra lực lượng tuần tra quanh hồ để đảm bảo không ai đánh bắt lậu. Nhiều lần bắt gặp các tàu đánh cá lậu, mà theo người dân hơn phân nửa là của người Việt, họ chỉ bật loa, cảnh báo và thuyết phục những tàu này rời đi. Nhiều dự án hỗ trợ quốc tế tại đây đều thất bại do họ hầu hết chỉ tập trung vào cơ sở hạ tầng, như poster tuyên truyền, tàu thuyền và các thiết bị khác. Họ chỉ đến đây để nghiên cứu, hoàn tất việc đó và rời đi. Nhưng IUCN, với nỗ lực kiên trì, đã dần hình thành được một cộng đồng chặt chẽ trong việc bảo tồn cá tại Plov Tuok. Người dân Plov Tuok giành nhiều lời tốt đẹp cho Pheakdey và đồng nghiệp vì họ đã luôn ở đó để giúp đỡ bất kỳ khi nào họ gặp khó khăn. Pheakdey và mọi người tạo ra nhiều chương trình hướng nghiệp, và cả 1 khoản tiền 5,000 USD vào quỹ cho vay trong vòng 5 năm tới. IUCN và người dân Plov Tuok đã và đang thực hiện tốt phần việc của mình, nhưng kết quả vẫn là vô định, do sự hiện diện của những con đập thuỷ điện xuất hiện ngày càng dày đặc.

Như các chương trước đã nêu rõ, việc xây dựng đập Hạ Sesan 2 ở Campuchia và hàng loạt đập khác ở Lào và Trung Quốc sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng. Khi tôi còn ngồi với bà con Plov Tuok, hồ chứa của đập Hạ Sesan đã bắt đầu nạp nước để chuẩn bị đưa vào hoạt động tháng 01/2018. Đập Hạ Sesan 2 cùng với các con đập khác sẽ thay đổi môi trường sống của dòng Mekong như thế nào? Hãy tưởng tượng, từ thượng nguồn dòng Mekong ở các dãy núi từ làng Vũ Bằng, Tây Tạng, từ tỉnh Vân Nam, khoáng chất và chất dinh dưỡng trôi về hạ nguồn, và 11 con đập chính lưu, và các con đập phụ lưu tại Lào và Campuchia sẽ chặn ít nhất 50% các chất này về phía hạ lưu. Biến đổi khí hậu, theo các nghiên cứu, cũng sẽ làm nhiệt độ khu vực tăng lên và làm giảm thêm 8% tổng lượng chất dinh dưỡng. 70% lượng dưỡng chất của dòng Tonle Sap đến từ các chính lưu của dòng Mekong. Bên cạnh đó, các con đập cũng thay đổi hoàn toàn quy trình nạp và xả nước dọc dòng Mekong, dẫn đến chu trình lũ lên – lũ xuống của hồ Tonle Sap sẽ bị thay đổi. Những con đập ở thượng lưu sẽ xả nước vào mùa khô, làm tăng lượng nước của dòng Tonle Sap, và làm tăng hơn gấp 3 lượng nước của hồ vào mùa này. Điều đó cũng làm tăng diện tích vùng ngập vĩnh viễn của hồ Tonle Sap lên khoản 18-31%. Vào mùa mưa, việc giảm lượng nước vào hồ sẽ thu hẹp diện tích các vùng nước ngập nước 75%. Cộng thêm việc bão táp diễn ra thường xuyên hơn, sinh kế và cuộc sống của các cộng đồng nhà bè sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Việc di cư và sinh sản của cá cũng bị mất cân bằng, do giờ đây cá khó có thể bơi lên thượng nguồn để đẻ trứng. Và nếu chúng lên được tới thượng lưu, thì trứng của chúng cũng khó vượt qua các con đập để đến trở về môi trường sống thích hợp.

Để đối phó với những sự thay đổi này, chính phủ Campuchia đã và đang đẩy mạnh việc nuôi cá tại các trang trại và bù vô lượng protein bị mất từ ngành đánh cá bị thất thoát. Lượng cá tự nhiên thu hoạch được liên tục giảm trong nhiều năm qua và để có thể bù đắp cho việc đó, Campuchia cần phải tăng 63% lượng đất nông nghiệp hiện nay họ đang có. Nhiều chuyên gia cho rằng chính phủ Campuchia cần phải chuyển trọng tâm vào việc xây dựng đập thuỷ điện trên dòng Tonle Sap. Đồng thời, Campuchia cũng phải thuyết phục nước láng giềng Lào giảm việc xây dựng thêm đập thuỷ điện. Nhưng gần đây, chính quyền Hun Sen lại có chính sách mua thêm điện từ Lào và điều đó cho thấy tương lai của dòng Tonle Sap sẽ rơi vòng xoáy vô định.

Bản đồ Tonle Sap.
Bản đồ thể hiện 3 vùng của hồ Tonle Sap.
Bản đồ dòng Tonle Sap đổ về dòng Bassac

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *