Chương 7: CÓ MỘT HẠ NGUỒN MEKONG ĐẦY ĐẬP THUỶ ĐIỆN

Siphandone, “Bốn ngàn đảo” trong tiếng Lào, là một trong những kỳ quan đẹp và phong phú nhất dãy Mekong. Một đường nứt trong quá trình kiến tạo địa lý dưới lòng Mekong đã cắt ngang dòng sông và tạo ra một mê cung với hàng ngàn đảo. Một số đảo nhỏ hơn bị chìm hẳn suốt 6 tháng mùa mưa. Thảm thực vật màu mỡ của Siphandone cùng vô số đảo không dấu chân người là nơi dừng chân của hàng trăm giống chim di trú. Tác giả đã đến đây để tìm hiểu về đời sống thiên nhiên và sinh hoạt của người dân Lào bị ảnh hưởng bởi sự xuất hiện của các con đập thuỷ điện. Cây cối ở Siphandone tồn tại qua hàng ngàn năm; nhiều cây to đến nỗi cần nhiều người ôm, với hệ thống rễ sâu nhiều thước, cắm vào lòng đảo. Khi dòng chảy chạm đến biên giới Campuchia và Lào, đường nứt này đã tạo ra 1 khoảng rơi cao 20m, hình thành tổ hợp thác nước ấn tượng nhất Châu Á. Khu vực thác nước này trở thành đường về của phần lớn các loài cá di trú.

Người dân ở Siphandone luôn phải di chuyển bằng thuyền, vì vậy việc đánh cá là hoạt động kiếm ăn chính. Họ chủ yếu sử dụng phương thức dùng “lee” – 1 loại bẫy cá dài, làm bằng tre và được đặt ở dưới chân các thác nước. Hou Sahong (là biên giới của 2 đảo Don Sahong và Don Sadam) là phụ lưu duy nhất ở đây không có thác nước, vì thế hàng trăm loài cá đều chọn khu vực này là nơi bơi về thượng nguồn. Cá khi di cư sẽ mắc vào đây và lúc nước rút sẽ bị mắc lại. Giờ đây truyền thống đó không còn được sử dụng nữa chính phủ Lào quyết định xây đập ở phụ lưu dài chỉ 5 cây số, và rộng 200 mét này. Cũng như tất cả đập thuỷ điện ở Lào, con đập Don Sahong được quản lý bởi 1 công ty nước ngoài; lần này là bởi Mega First (Công ty Malaysia sản xuất bóng đèn và chưa từng xây con đập nào cả). Tìm kiếm kỹ hơn, Mega First đã chuyển hợp đồng này cho 1 nhà thầu phụ Trung Quốc, Sinohydro. Năm 2014, Quỹ vì Tự nhiên Toàn cầu (World Wide Fund for Nature – WWF) đã lập chiến dịch phản đối đập Don Sahong vì nó có thể ảnh hưởng xấu đến an ninh lương thực của hàng triệu người khu vực sông Mekong. Đập Don Sahong được xây cách biên giới với Campuchia chỉ 2 cây số, và nằm trong khu vực sinh sống của cá heo nước ngọt. Giống loài này được cho là sẽ tuyệt chủng nếu con đập ra đời (đây vốn đã là 1 loài trong sách đỏ, và chúng chỉ sinh sản mỗi 3-4 năm một lần).

Năm 2013 là lần đầu tiên chính phủ Lào thông báo với Uỷ ban sông Mekong (Mekong River Commission – MRC), tổ chức được lập ra bởi 4 nước Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Việc thông báo này là để làm theo Hiệp ước Mekong (Mekong Agreement) được ký năm 1995 cũng bởi 4 nước trên. Tháng 01/2015 cũng đánh dấu kết thúc khoảng thời gian tư vấn và kháng nghị của các nước còn lại về con đập; nhiều giải pháp được đề xuất như mở rộng những dòng chảy lân cận nhằm đảm bảo việc di cư của cá. Và do không đạt được thoả thuận nào, tháng 06/2015, đập Hou Sahong được khởi công xây dựng. Chính phủ Lào trong những năm qua đã cho công bố nhiều tài liệu biện hộ cho việc xây đập rằng truyền thống đánh cá mới là nguyên nhân chính dẫn đến việc lượng cá bị giảm, hay hiện tượng khô hạn kéo dài là do biến đổi khí hậu. Đây là hành động theo nhiều chuyên gia là tàn nhẫn và vô lý. Những kênh đào nhân tạo mà chính phủ Lào tạo ra để điều chuyển việc cá di trú đôi khi quá hẹp, và người dân sẽ tận dụng điều đó để đánh bắt dễ dàng hơn. Thậm chí, ban đầu Mega First đã lên kế hoạch đền bù cho cộng đồng người dân quanh đó, nhưng chính phủ Lào bảo rằng hoạt động đánh cá là phi pháp nên không cần phải đền bù. Một trong những con đập nổi tiếng (và nhiều tranh cãi) khác của Lào là đập Xayaburi. Trong thiết kế của con đập có bao gồm 7 cây số “thang máy cá” (fish elevator) để chuyển cá qua khỏi tường đập, vào hồ dự trữ. Đây là 1 trong những công nghệ hiện đại tương tự như các con đập ở Mỹ. Tuy nhiên, chưa có cơ sở nào chứng minh con đập sẽ đủ sức vận chuyển 30 tấn cá mỗi giờ vào mùa cao điểm của lưu vực sông Mekong nơi đây cả.

Việc xây dựng đập ở hạ lưu sông Mekong đã bắt đầu được lên kế hoạch từ những năm 1950 khi người Mỹ đặt bước chân xâm lược của họ tại khu vực Đông Nam Á. Đối với người Mỹ, khu vực bán đảo Đông Dương màu mỡ này là hậu phương vững chắc cho chiến lược chống lại chủ nghĩa Cộng Sản đang bành trướng của Trung Quốc. Tháng 04/1965, tổng thống Mỹ đương thời, Lyndon Johnson đã từng so sánh sông Mekong với khu vực thung lũng Tennessee về sản lượng thực phẩm và tiềm năng kinh tế. Khi đó, chính phủ Mỹ đã cử nhiều đoàn cán bộ đến 4 nước hạ nguồn Mekong để thực hiện việc phát triển kinh tế, với trụ cột chính là 14 con đập ở lưu vực này. Rất nhiều báo cáo từ các tổ chức quốc tế, trong đó có Liên Hiệp Quốc (United Nation – UN) đều đã đánh giá sai về thực trạng đời sống nơi đây và sức ảnh hưởng của dự án phát triển kinh tế của Mỹ. Báo cáo của UN đã ghi trong báo cáo “Mekong và hệ sinh thái sông”, rằng: “Sông Mekong rất kiên cường và có thể chịu đựng sự thay đổi. Sự đa dạng vốn gắn liền với sự bền vững, và bởi vì sự phức tạp này, chúng ta không thể chối cãi việc ảnh hưởng từ các con đập sẽ có thể thay đổi tự nhiên ở lưu vực sông Mekong”. Nhưng sau khi Mỹ rút khỏi Đông Nam Á, từ cuối những năm 1990 đến nay, đã có nhiều tổ chức nghiên cứu bác bỏ điều đó. Năm 2010, Trung tâm Quản Lý Môi Trường quốc tế của Úc đã công bố một nghiên cứu đánh giá chiến lược về môi trường (strategic environment study – SEA) được tài trợ bởi MRC. Báo cáo này cho rằng không thể đánh giá được hết tác động của các con đập lên đời sống của người dân nơi đây và đề nghị có lệnh tạm ngừng việc “đập hoá” dòng Mekong trong 10 năm để có thể đánh giá kỹ càng. Nhưng chính phủ Lào vẫn bất chấp báo cáo đó, và sự đồng thuận của MRC, cho tiến hành xây đập Xayaburi vào 2011. Cho đến nay, dự án trị giá 2 tỷ đô này, sau nhiều lần trì hoãn vẫn chưa hoàn thành và đã bị đội thêm 1.2 tỷ đô.

Các báo cáo này cũng tập trung vào ảnh hưởng của các con đập tại Lào lên hệ sinh thái hạ nguồn. Năm 2011, một báo cáo thú vị tên Costanza Report, do 1 nhóm các học giả quốc tế và địa phương thực hiện, đã đánh giá kỹ càng vào giá trị các con đập mang lại. Báo cáo Costanza đánh giá 3 tình huống: (1) bao gồm chỉ 30 con đập đã và đang hoàn thành; (2) ngoài số đập trên, thêm 6 con đập ở chính nguồn Mekong; và (3) bao gồm thêm 11 con đập ở các chính nguồn và 30 con đập ở phụ lưu. Báo cáo này tính giá tiền lên từng mẻ cá, khu rừng và vùng đất bị mất, ảnh hưởng lên đa dạng sinh học và các hậu quả khác. Kết quả cho thấy chỉ có Lào và Thái Lan là được lợi khi xây dựng các con đập này. Nhưng tổng mất mát của cả 4 nước sẽ vượt qua lợi thu của 2 nước trên. Ở tình huống xấu nhất, xây 11 con đập ở chính nguồn và 30 con đập ở phụ lưu, cả 4 nước sẽ mất 66 tỷ đô. Năm 2012, 1 nhóm chuyên gia của đại học Leeds, do 1 chuyên gia về nước Guy Ziv, đã công bố nghiên cứu về việc biến mất nguồn thực phẩm của người dân nơi đây. Nếu theo tình huống tệ nhất của báo cáo Costanza, Lào sẽ mất 43% lượng thức ăn và Campuchia là 100%, do hồ Tonle Sap sẽ bị tàn phá nặng nề.

Câu hỏi đặt ra là: liệu chiến lược trở thành bình ắc quy Đông Nam Á của Lào khả thi đến mức độ nào? Hiện nay, hầu hết điện năng tạo ra ở Lào được bán cho các nước láng giềng, đặc biệt là Thái Lan. Theo luật pháp quốc nội, Thái Lan phải luôn có 40% điện dự trữ: nghĩa là vào bất kỳ thời điểm nào nước này đều cần gần 1.5 lần mức điện năng tiêu thụ tối đa (các trung tâm thương mại ở Thái, đặc biệt là Siam Paragon, tiêu thụ điện nhiều bằng 1 số tỉnh nhỏ của nước này – nhiều chuyên gia cho rằng việc thay đổi luật dự trữ điện ở Thái và sử dụng hiệu quả hơn sẽ làm giảm nhu cầu xây đập). Việc lưới điện ở Đông Nam Á còn lạc hậu là 1 rào cản lớn không kém cũng là động lực để Lào và Campuchia liên tục xây các con đập mới, gần đô thị để hạn chế hao hụt (Thủ tướng đương nhiệm của Campuchia, Hun Sen, đã cho xây đập Hạ Sesan 2 để làm giảm giá điện năng, với giá 800 triệu đô, do 1 công ty Trung Quốc thầu, nhưng việc phải xây thêm 300 cây số lưới điện làm cho giá điện không thể giảm được). Một vấn đề then chốt khác là việc toàn bộ đập ở Lào và Campuchia đều do người nước ngoài thực hiện (50 đập do 10 công ty ngoại quốc thầu hết), với hợp đồng toàn quyền khai thác dài 25-30 năm sau khi hoàn thành. Thông thường, các nhà đầu tư sẽ sinh lời khoản 12-15 năm sau khi đập được đưa vào vận hành. Vì thế, Lào chỉ có thể kiếm được tiền từ thuỷ điện từ 2050, và báo cáo của đại học Leeds cho thấy 50 năm xuất khẩu điện của Lào sẽ chỉ kiếm được 700 triệu đô. Và để có thể lấy được số tiền đó, Lào phải đào tạo cả 1 thế hệ kỹ sư, nhân sự chất lượng cao, điều gần như là bất khả thi. Việc thiếu vắng sự hiện diện của Trung Quốc trong các thoả thuận về sông Mekong cũng hạn chế việc các nước hạ nguồn đạt được bất kỳ kế hoạch bảo tồn hệ sinh thái bền vững nào. Trung Quốc từ trước đến nay luôn đứng ngoài các hoạt động buộc họ phải từ bỏ quyền quyết định quốc gia, đặc biệt là trong tình hình nước này cần phải xây đập càng nhanh càng tốt để đảm bảo lượng nước dự trữ cho tương lai khô hạn lâu dài và bất ổn. Chỉ tới tháng 03/2016, Trung Quốc mới đồng ý họp ở đảo Hải Nam để cho ra đời Cơ chế hợp tác Mekong-Lan Thương (Lancang-Mekong Cooperation mechanism – LMC). Ban đầu LMC chỉ được lập để quản lý nguồn nước, nhưng chính phủ Trung Quốc nhanh chóng mở rộng ra các phạm vi hoạt động khác, bao gồm trao đổi giáo dục, xoá đói giảm nghèo và xây thêm cơ sở hạ tầng. Nước này “chào hàng” 1 khoản vay trị giá 11.5 tỷ đô cho 4 nước còn lại, nhằm củng cố sức ảnh hưởng của chiến lược “Vành đai – con đường”. Nhiều chuyên gia sợ rằng điều này sẽ đặt cả vùng Mekong vào tay Trung Quốc và LMC sẽ bao trùm lên MRC.

Lào cần phải thay đổi chiến lược vì hiện tại thuỷ điện đã không còn là nguồn năng lượng sạch được ưa chuộng. Mỹ đã có 3,000 đập và từ năm 1950-1960, rất ít đập được xây dựng mới do sự trỗi dậy của các năng lượng gió, mặt trời và sinh khối (biomass). Giá điện mặt trời đã liên tục giảm trong nhiều năm qua, hơn 80% từ 2009-2014, và đến khi Lào có thể thu được lợi nhuận từ thuỷ điện, giá cả có thể còn thấp hơn nữa. Theo báo cáo năm 2017 của đại học California, Berkeley, nếu Lào muốn có 1 tương lai ổn định về năng lượng, và trở thành ắc quy Đông Nam Á, nước này phải thay đổi chiến lược. Theo các phân tích, cho đến 2030, hơn 50% số điện năng tái tạo của nước này phải được tạo ra từ các nguồn khác ngoài thuỷ điện. Sự kết hợp này sẽ vẫn cung cấp đủ số điện cần thiết và rẻ hơn ít nhất 2.6 tỷ đô so với kế hoạch hiện tại. Và giải pháp hiệu quả duy nhất là phải hợp tác với tất cả các nước còn lại trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam. Với kế hoạch phát triển của mình, Việt Nam sẽ cần gấp 3 số điện năng hiện tại. Và bởi vì không còn con sông nào ở nước mình có thể xây đập được nữa, và năng lượng hạt nhân là vô vọng, nên Việt Nam chỉ có 2 con đường: hoặc là nhập khẩu điện từ láng giềng hoặc nhập khẩu than từ phần lại của thế giới. Việc sử dụng điện than là 1 giải pháp rất kém do mức độ ô nhiễm sẽ trầm trọng hơn. Vì thế, nếu Việt Nam có thể giúp các nước hàng xóm phát triển năng lượng mặt trời, gió và sinh khối. Đây là phương án đôi bên cùng có lợi và Việt Nam là nước duy nhất ở vị thế đặc biệt để có thể hướng sông Mekong sang 1 hướng khác.

Khai thác cá Linh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *