Chương 10: VIỆT NAM ƠI, ĐỪNG LÀ, NƠI DÒNG MEKONG “QUA ĐỜI”?

Chương 10 là chương dài nhất sách và nói nhiều về Việt Nam . Vì viết năm 2016, đôi chỗ chưa thể hiện sát sự biến chuyển rất nhanh tình hình của dòng Mekong và đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên cái nhìn xuyên suốt của một nhà nghiên cứu môi trường cũng cho ta một cảm nghĩ thật lắng đọng, thật buồn: làm gì đây để Việt Nam đừng là quốc gia cuối cùng chứng kiến dòng Mekong vĩ đại phải qua đời?

Tháng 04/2016, tôi đặt chân đến Cần Thơ, thành phố trung tâm của đồng bằng sông Mekong với hơn 1.2 triệu dân. Cũng vào mùa xuân 2016,đồng bằng sông Mekong trải qua mùa khô hạn kinh khủng nhất trong 100 năm qua và hầu như nước ở vùng này chỉ còn toàn là nước biển mà thôi.

Tại một hội nghị nghiên cứu về sông Mekong do đại học Cần Thơ tổ chức, tôi nghe nhiều ý kiến cho rằng tình trạng khô hạn là do Trung Quốc xây dựng hàng loạt đập ở thượng nguồn và có ý kiến cho là do Thái Lan hút 1 lượng nước lớn khỏi chính lưu Mekong cho mục đích tưới tiêu. Tôi quyết định đi xuôi dòng về đồng bằng Mekong tìm hiểu lý do thật sự của tình trạng tồi tệ này.

Ở ĐBSCL các thành phố lớn như Cần Thơ, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Long Xuyên vốn được người Khmer, Trung Quốc và Việt Nam di cư đến đây dựng lên. Vùng ĐBSCL cung cấp 40% lượng nông sản của Việt Nam với chỉ 12% của tổng diện tích quốc gia. Mỗi năm, gạo xuất khẩu của ĐBSCL chiếm 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước, mang về hơn 7 tỷ USD, 2% tổng GDP. Ngoài ra, ĐBSCL cũng cung cấp hơn 60% sản lượng trái cây và 75% sản lượng cá và tôm nuôi của cả nước. Dọc đường đi chúng tôi thấy rất nhiều vườn cây ăn quả khô héo, các thửa ruộng úa tàn vì nước mặn không thể tưới. Đất đai ở ĐBSCL về bản chất có lượng axit-sulfuric do cách đây hơn 5,000 năm, toàn bộ khu vực này đều chìm dưới nước biển và chỉ trồi lên khi kỷ băng hà cuối cùng qua đi và nhờ chu kỳ lũ của dòng Mekong liên tục bồi đắp. Vùng này, cứ khi mùa mưa đến và lũ dâng, đất đai sẽ được “rửa” mặn, phù hợp cho làm nông. Giờ đây, khi khu vực này bị nhiễm mặn nghiêm trọng như vậy, người dân phải tìm cách sinh tồn.

Lúa thu hoạch non cho bò ăn.

CUỘC RƯỢT ĐUỔI GIỮA NƯỚC MẶN VÀ NƯỚC NGẦM


Đi càng xuôi về phía ĐBSCL, chúng tôi bắt gặp nhiều ruộng rau xanh rì đủ loại từ dưa leo, bắp cải, củ cải hay sà lách. Khi được hỏi về cách ứng phó, người dân cho biết giờ đây họ dùng động cơ chạy tàu ghe để làm máy bơm nước từ các giếng ngầm. Nước bơm lên được dùng để tưới tiêu và sinh hoạt. Việc hút nước ngầm dữ dội là một hiểm hoạ khác của ĐBSCL. Hầu hết các hộ dân chỉ quan tâm đến sinh kế của gia đình mình trong vài ba tháng tới, chẳng ai chịu suy nghĩ cho 1 viễn cảnh 10-15 năm sau, nên sau nhà ai cũng có 1 cái giếng cho gia đình mình.
Cuộc đổi mới kinh tế từ 1986 dẫn tới đô thị hoá và công nghiệp hoá đã đặt nhiều áp lực lên nguồn nước ngầm của ĐBSCL. Các nghiên cứu cho thấy rằng cho đến đầu những năm 1990, mạch nước ngầm của đồng bằng vẫn chưa bị đụng tới. Nhưng từ 1995, mật độ khai thác ồ ạt của người dân đồng bằng đã vượt qua khả năng tự hồi phục của mạch nước ngầm. Mỗi ngày có hơn 2.5 triệu mét khối nước ngầm được rút lên khỏi lòng đất. Sau 25 năm, ĐBSCL đã lún xuống trung bình hơn 18 cm. Một số điểm nóng như Sóc Trăng hay Bạc Liêu ở phía Tây ĐBSCL còn lún xuống hơn 30 cm.
Trong 1,000 năm qua, ĐBSCL mỗi năm mở rộng hơn 16 cây số vuông (tương đương 3,000 sân bóng đá). Giờ đây, mỗi năm đồng bằng bị mất 1 diện tích bằng 430 sân bóng đá do hiện tượng xói lở. Điều này đẩy ĐBSCL vào 1 vòng xoay huỷ diệt chưa có hồi kết khi: đất đồng bằng lún xuống thì nước biển xâm nhập làm đất đai nhiễm mặn. Và đất đai càng nhiễm mặn thì người dân càng phải hút nước ngầm nhiều hơn. Ngày nay, ĐBSCL được xếp vào danh sách các khu vực đồng bằng sông (river delta) dễ tổn thương nhất thế giới. Nông dân ở ĐBSCL thường diễn tả về biến đổi khí hậu rằng mùa mưa thì ngắn hơn còn mùa khô thì dài hơn, làm nhiệt độ tăng cao. Vào năm 2050, nhiệt độ trung bình ở ĐBSCL được cho là sẽ tăng từ 0.8-1.4 độ C. Một số tỉnh của khu này còn bị cho là sẽ tăng tới 4 độ C, và nhiều chuyên gia cho rằng nhiệt độ sẽ luôn cao hơn 35 độ trong ít nhất 6 tháng mỗi năm. Nhiều tổ chức nghiên cứu về biến đổi khí hậu dự đoán rằng đến năm 2050, nước biển sẽ dâng cao khoản 30 cm. Các nghiên cứu này lại không tính đến việc khai thác nước ngầm ở ĐBSCL và tác động của các con đập trên dòng Mekong. Nhiều chuyên gia tin rằng nếu tính toán kỹ lưỡng, con số 30 cm nước biển dâng lên sẽ đến sớm hơn 2050 rất nhiều (một số chuyên gia cho rằng một nửa đồng bằng sẽ chìm xuống biển vào cuối thế kỷ 21). Nếu biển dâng đến 50 cm, các thành thị, khu công nghiệp sẽ cần phải được nâng theo, hoặc phải được bao quanh bởi 1 hệ thống kênh đào. ADB dự đoán năng suất kinh tế của Việt Nam sẽ giảm ít nhất 20% nếu tình huống đó xảy ra. Việc kêu gọi tài trợ chống biến đổi khí hậu lại rất khó do mức tàn phá kéo dài, khó thấy ngay, từ đó, việc đầu tư cho các dự án chống biến đổi khí hậu ở Việt Nam còn nhỏ giọt và thiếu kế hoạch.

Nhìn lại lịch sử ĐBSCL, vào thế kỷ thứ 3, vùng Đồng Tháp Mười (Plain of reeds) còn chưa được khẩn hoang và lúa trời ở đây có thể cao đến 3 mét. Qua nhiều thế kỷ, người Việt và cả người Hoa đã vào khẩn hoang, cho đến thế kỷ 18, họ được triều đình Huế cho phép thành lập và quản lý các thành thị như Mỹ Tho và Sài Gòn. Người Pháp và Mỹ tạo ra ở đây nhiều kênh đào nhân tạo. Đối với phương Tây, quy trình lũ lụt tự nhiên của ĐBSCL là cần được kiểm soát để ổn định việc sản xuất lương thực. Liên tục nhiều thập kỷ, Pháp và Mỹ đã đổ hàng chục triệu USD vào miền Nam Việt Nam. Đối với Pháp, vào năm 1929, họ đã dọn sạch 2.4 triệu héc-ta đất rừng và đầm lầy ở ĐBSCL để chuyển đổi thành đất nông nghiệp. Họ cũng đã cho xây hơn 1,500 cây số đường sông và 3,500 cây số các kênh phụ. Mục đích của họ là để có thể tiếp cận vùng đồng bằng trù phú này và vận chuyển quân đội, khí tài, tài nguyên ra vào dễ dàng hơn. Thời Mỹ, họ tiến hành Cách mạng Xanh (Green revolution) đẩy nông dân xa khỏi canh tác truyền thống, và thay vào đó là thuốc trừ sâu, phân bón, máy cày và các kỹ thuật canh tác công nghiệp để đạt năng suất hơn. Một nghiên cứu của Hà Lan cho biết vào 1974, có khoản 1 triệu máy bơm nước đang hoạt động ở đồng bằng Mekong.

Đê biển.
Đê biển ở Cà Mau

Khi người Mỹ rút khỏi đây vào năm 1975, liên tục cho đến tận năm 1988, Việt Nam vẫn là nước nhập khẩu gạo do lo sợ nạn đói. Sau nhiều cuộc chiến tranh lâu dài, Việt Nam hơn 50 năm vẫn luôn là nước nhập khẩu gạo, có lúc đến hơn 500,000 – 1 triệu tấn gạo mỗi năm. Nhưng vào năm 1989, lần đầu tiên Việt Nam đạt con số xuất khẩu gạo lên đến 1.4-1.89 triệu tấn gạo (thu về hơn 300 triệu USD). Nhiều chuyên gia Việt Nam cho là do nghị quyết 10 công nhận hộ nông dân là đơn vị tự chủ. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn là nước xuất khẩu gạo. Sản lượng gạo tại ĐBSCL tăng từ 5 triệu tấn năm 1986 lên 25 triệu tấn năm 2017.

Cù lao Dung
Đánh bắt cá quá độ

TĂNG CHỈ TIÊU, TĂNG VỤ, TĂNG HÓA CHẤT


Đạt các con số ấn tượng là vậy, nhưng thực tế đời sống của nông dân tại ĐBSCL lại là 1 bức tranh nhiều màu ảm đạm. Chất lượng đất canh tác liên tục giảm sút do sự xói lở và bị bao vây bởi hệ thống kênh đào. Trong khi nhiệm vụ vựa lúa của cả nước vẫn tăng chỉ tiêu hàng năm, thu nhập của bà con nông dân năm 2017 lại thấp hơn 10% so với cả nước (năm 1999, con số này cao hơn 10% so với cả nước). Giờ đây, các hộ dân phải canh tác 3 vụ lúa 1 năm nhưng nhiều người vẫn phải bỏ lên thành phố để làm công nhân. Để có thể canh tác 3 vụ mỗi năm, nông dân hiện tại vẫn phải dựa vào thuốc trừ sâu và phân bón vô cơ nhiều. Việc xây hàng loạt đập thủy điện trên dòng Mekong là yếu tố khiến xảy ra thiếu nước, hạn hán còn phù sa thì bị suy giảm đến biến mất vì hệ thống đập đã chặn lại khoáng chất và dinh dưỡng từ thượng nguồn. Hơn 3,000 năm qua, mỗi năm dòng Mekong đều tải khoản 150 triệu tấn trầm tích về đồng bằng hạ lưu để bồi đắp. Khối lượng lớn trầm tích kẹt lại ở các con đập là các chất nặng hơn lại khiến xảy ra hiện tượng sông bị “đói” (hungry river) và “nước đói” trở nên nhẹ hơn, mà càng nhẹ thì nước càng chảy mạnh và nhanh, cuốn phăng đất đá 2 bên bờ gây sạt lở, đi kèm với nước biển xâm nhập sâu vào trong sông. Cho tới cuối 2017, hơn 1,200 gia đình đã phải bị di dời khỏi ĐBSCL, và đặc biệt, đã có hơn 300,000 người. đa số là lực lượng trẻ lao động chính đã phải chạy về các thành phố công nghiệp như Sài Gòn, Bình Dương kiếm sống. Trong vòng 25 năm qua, hơn 1.7 triệu người đã rời bỏ ĐBSCL.

Vỏ chai thuốc trừ sâu đầy ruộng.


Nạn khai thác cát quá độ ở ĐBSCL cũng góp phần làm xói mòn khu vực này. Lưu vực sông Mekong trải dài qua 3 nước Lào, Campuchia và Việt Nam hiện nay đang bị khai thác triệt để. Giữa năm 200 – 2016, Campuchia đã bán hơn 80 triệu tấn cát cho Singapore (bất chấp lệnh cấm khai thác ngành này từ 2009). Giá trị cát bán ra đạt gần 780 triệu USD. Các nước phát triển hơn họ mua cát chất lượng cao tại dòng Mekong để lấn biển, đô thị hoá và nâng tầng hệ thống đường sá của họ. Giá cát hiện nay tầm 5-10 USD mỗi tấn. Chỉ riêng 2016, Việt Nam đã bắt hơn 3,000 cát tặc (thu nhập trung bình của những người này vào khoản 10,000 USD, cao gần 4 lần thu nhập đầu người. Trong khi đó, việc quản lý nạn khai thác cát sông vẫn được quản lý nhỏ lẻ ở quy mô địa phương.


Đi xuôi xuống đồng bằng, chúng ta có thể bắt gặp nhiều gia cảnh chỉ còn người già bám ruộng vườn lây lất. Tôi đã có cả buổi chiều ngồi nói chuyện với một người nông dân trồng mía về thực tế sinh kế của các cộng đồng tại Cù Lao Dung. Gia đình ông đã di cư tới đây từ An Giang vào năm 2000 và bắt đầu trồng mía trên khoản đất lên đến 180 héc-ta và mỗi năm chỉ kiếm được khoản 1,000 USD mỗi năm (vì giá mía đường giảm, nhân công bỏ lên thành phố nên chi phí thu hoạch tăng cao – theo câu chuyện của tác giả). Con cái của ông đã bỏ lên TP.HCM để làm công nhân dệt may và điện máy. Còn ông thì bỏ đi chạy xe ôm.

Khai thác nước ngầm

CON TÔM ÔM CÂY LÚA


Theo giáo sư Dương Văn Ni của Đại học Cần Thơ, giờ đây người dân lâm vào cảnh phải đầu tư rủi ro: hoặc bám ruộng vườn chờ thời, hoặc vay nợ để tổ chức nuôi thuỷ sản, chủ yếu là tôm. Giáo sư Ni là người ủng hộ việc chuyển đổi trồng lúa sang mô hình nuôi tôm ở các vùng nước nhiễm mặn (lợ). Ông mong chính quyền có chương trình huấn luyện nông dân theo mô hình canh tác bền vững kết hợp lúa tôm để đảm bảo thích ứng được hoàn cảnh mới. Một giáo sư khác, ông Nguyễn Minh Quang, là học trò của ông thì hướng dẫn cho nông dân mô hình canh tác nông nghiệp nuôi ghép thủy sản trong rừng đước (mangrove-based polyculture).
Theo giáo sư Ni, các nước mà sông Mekong chảy qua phải ngồi lại với nhau để hợp tác và cùng nhìn về dòng sông này như 1 thực thể sống hợp nhất: bất kỳ bộ phận nào của Mekong bệnh thì cả dòng sông sẽ bệnh theo – không có thượng nguồn sẽ không có đồng bằng, và không có đồng bằng sẽ không thể có chu trình bồi đắp, luân chuyển tự nhiên như hàng ngàn năm qua. Hiện nay, các nước vẫn mạnh tay khai thác sông Mekong trên địa phận nước mình vì lợi ích quốc gia mình mà không có kế hoạch bảo tồn bền vững. Thái Lan, nước trước nay vẫn mua điện từ Lào, đã công bố điều chỉnh chính sách sử dụng và trữ điện nội địa vào tháng 03/2018. Điều này làm giấc mộng trở thành “bình ắc-quy Đông Nam Á” của Lào bị rúng động, do lúc đó họ mới công bố chuẩn bị khởi công đập Pak Beng. Thái Lan đang tìm nguồn năng lượng bền vững khác như mặt trời, sinh khối và điện gió. Đây là tín hiệu đáng mừng le lói trong tình cảnh sông Mekong đang chết dần chết mòn. Không còn thời gian nữa, nếu các nhà đầu tư của chính phủ các nước Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, và Việt Nam không chịu đánh giá sông Mekong một cách tổng hoà, và chỉ biết lợi ích riêng quốc gia mình thì ngày sông Mekong lụi tàn đã đến trước mắt.

HẾT

Sông cạn nước do hạn hán.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *